Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân bao gồm thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể và tiểu chủ được Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển và thực tế cho thấy, kinh tế tư nhân đã trở thành một trong những động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội tiến nhanh.

Cùng với cả nước, kinh tế tư nhân trong tỉnh trong thời gian qua đã có bước tiến rõ rệt.Trong sự phát triển đó phải kể đến lực lượng đông đảo nhất là khu vực hộ kinh doanh cá thể (KDCT) và xu hướng chung các hộ KDCT này sẽ chuyển lên thành các doanh nghiệp DN.Tính đến thời điểm hiện nay cả nước có khoảng trên 3 triệu hộ KDCT.

Với mục tiêu thúc đẩy các hoạt động kinh doanh diễn ra ngày càng  minh bạch hơn,  điều tiết các đơn vị kinh doanh đó  bởi một hệ thống biện pháp hành chính, pháp lý toàn diện và ổn định,nâng cao khả năng dự đoán về môi trường kinh doanh, giúp các nhà đầu tư, các nhà quản lý DN, người lao động cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra những quyết định phù hợp thì việc chuyển đổi từ hình thức hộ KDCT thành DN là đang trở thành  một tất yếu trong bối cảnh nước ta hiện nay.Vậy những lợi ích cụ thể của việc chuyển đổi sẽ như thế nào?

1. Những lợi ích của việc chuyển đổi

Về phía hộ KDCT

Việc chuyển đổi này sẽ mang rất nhiều lợi ích cho các hộ KDCT như: Lợi ích về tín dụng, mặt bằng sản xuất, sự hỗ trợ của các hiệp hội nghề nghiệp, tư cách pháp nhân trong các giao dịch dân sự, thuê lao động… Và chỉ khi đã “chính danh” thành DN với đầy đủ tư cách pháp nhân cùng những tiềm lực sẵn có thì việc tiếp cận với các ngân hàng và tổ chức tín dụng để vay vốn đầu tư mới được thuận lợi. Bên cạnh đó là cơ hội được thuê đất mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư trang thiết bị, công nghệ mới cũng dễ dàng hơn. Một điều quan trọng nữa là khi doanh nghiệp có con dấu riêng và tư cách pháp nhân thì chủ DN đó có quyền đứng tên độc lập mua nguyên liệu sản xuất (nếu cần) từ nước ngoài về mà không phải qua các công ty trung gian, điều đó rất có lợi cho những ai muốn chuyển đổi sang hình thức thành các DN xuất nhập khẩu.Việc này cũng đồng nghĩa với việc giảm chi phí, tăng lợi nhuận (theo luật pháp Việt Nam, nếu là hộ kinh doanh cá thể thì không đủ điều kiện mua hàng từ nước ngoài về).

Về phía nhà nước

Nhà nước sẽ dễ quản lý hơn việc thực hiện các quy tắc lao động; có nhiều thông tin hơn cho việc phân tích và xây dựng chính sách; thu hút vốn đầu tư nhiều hơn do các nhà đầu tư tin tưởng hơn; tăng lượng thuế thu được…. Hộ kinh doanh cá thể khi trở thành DN sẽ có quyền tiếp cận với thị trường nước ngoài một cách hợp pháp hơn; có hóa đơn thuế giá trị gia tăng; có quyền thành lập các chi nhánh; có khả năng huy động các nguồn vốn cổ phần; tiếp cận được với các ưu đãi đầu tư của Nhà nước…

2.Thực trạng và những khó khăn ở nước ta hiện nay.

Dưới đây là những số liệu cụ thể sẽ cho chúng ta có một cái nhìn tổng quát hơn về thực trạng của hộ KDCT ở nước ta hiện nay:

Từ khi Luật DN có hiệu lực từ năm 2000, thì đã có một số lượng lớn hộ KDCT đăng kí chuyển thành DN. Theo số liệu của tổng cục thống kê, hiện cả nước có khoảng trên 3 triệu hộ KDCT. Và hộ KDCT hiện đang là một lực lượng đông đảo tham gia vào quá trình sản xuất – kinh doanh của nền kinh tế. Mặt khác nếu xem xét so sánh trong tương quan giữa các loại hình doanh nghiệp, thì hộ KDCT cũng đang đóng góp với tỷ trọng cao ở một số lĩnh vực. Cả nước hiện có khoảng 4.086 DNNN, đóng góp GDP trung bình hàng năm đạt 39,2%; 3.697 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào hoạt động, đóng góp GDP bình quân 15,17%; 105.569 doanh nghiệp tư nhân, đóng góp GDP trung bình 8,91%; 320.000 hợp tác xã, 130.000 trang trại… đóng góp GDP trung bình 11%. Trong khi đó, với trên 3 triệu hộ KDCT đa số đang kinh doanh ở trong các làng nghề, sản xuất nhỏ lẻ đang đóng góp GDP hàng năm trung bình lên đến 18%, cao hơn rất nhiều so với khối doanh nghiệp tư nhân, thậm chí cao hơn cả khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Các hộ KDCT cũng đang đứng đầu về doanh thu bán lẻ trên thị trường, chiếm khoảng 60% doanh thu bán lẻ dịch vụ hàng hóa của cả nước.Và nếu xem xét hộ KDCT trong nhóm doanh nghiệp dân doanh, hộ KDCT thực hiện nộp ngân sách Nhà nước chiếm đến 55% trong loại hình doanh nghiệp này. Về khả năng giải quyết công ăn việc làm, hộ KDCT đang tạo ra khoảng 5,58 triệu chỗ làm cho người lao động. Ngoài ra, theo một đánh giá mới đây, hộ KDCT đang đóng vai trò rất quan trọng trong việc góp phần tạo ra sự phát triển cân bằng giữa các vùng nông thôn và thành thị. Cũng theo số liệu của tổng cục thống kê, số lượng các hộ KDCT đang tập trung nhiều ở các vùng nông thôn (chiếm 57,1%), trong khi hầu hết các doanh nghiệp chủ yếu tập trung ở các vùng đô thị.

Chỉ từ một vài số liệu thống kê nói trên, cũng đủ để nhìn nhận, đánh giá vai trò của các hộ KDCT trong nền kinh tế nước ta hiện nay quan trọng như thế nào…Tuy nhiên, hiện nay khu vực này vẫn đang trong tình trạng phát triển một cách tự phát.Theo thống kê điều tra, chỉ có khoảng 30% số hộ đăng ký kinh doanh, 30% số hộ chưa đăng ký và 30% không đăng ký. Như vậy việc tính không đầy đủ số lượng hộ kinh doanh sẽ có ảnh hưởng đến việc tính GDP hàng năm.

Hiện nay ở nước ta có một thực trạng là có rất nhiều hộ KDCT có số vốn, số công nhân, nhà xưởng…với quy mô lớn, có thể hơn cả DN hay công ty TNHH tuy nhiên có một nghịch lý là các hộ KDCT này lại không có ý định chuyển lên thành DN ho dù họ đang có những dự định để mở rộng quy mô SX. Vậy nguyên nhân cho vấn đề ở đây là gì?

Thứ nhất: Khó khăn lớn nhất đối với các hộ kinh doanh cá thể vẫn là thường thiếu vốn, không có tài sản thế chấp để vay ngân hàng, trong khi đó tài sản giá trị nhất là đất ở sổ đỏ nên chỉ vay được ít và ngắn hạn. Bên cạnh đó, mặt bằng sản xuất cũng đang là vấn đề bức xúc của nhiều hộ kinh doanh. Để mở rộng sản xuất thì phải có mặt bằng, mà các hộ đang được quyền sở hữu thì đã sử dụng hết công suất trong khi đất canh tác không chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất kinh doanh được. Đó là chưa kể việc thuê nhân công lao động hay các hoạt động xúc tiến thương mại, bảo vệ quyền lợi chính đáng trong cạnh tranh cũng gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai: Nhà nước đã có cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, nhưng mới chỉ tập trung vào các loại hình doanh nghiệp, chưa có cơ chế, chính sách hỗ trợ cụ thể đối với hộ KDCT; bộ máy quản lý nhà nước ở nhiều địa phương vẫn còn hạn chế, bất cập, nhất là tình trạng nhũng nhiễu của một số cán bộ, công chức nhà nước…

Thứ ba: Khuôn khổ pháp lý cho các hộ kinh doanh hoạt động còn thiếu, các chính sách về đất đai, tài chính tín dụng, đặc biệt là chính sách thuế không minh bạch, thường xuyên thay đổi đã khiến nhiều hộ kinh doanh đăng kí hoạt động theo loại hình DN được một thời gian, nay lại xin quay trở lại kinh doanh theo hộ cá thể. Ví dụ như: Theo nghị định 109/2004/NĐ-CP quy định, hộ kinh doanh cá thể có trên 10 lao động trở lên hoặc có từ 2 địa điểm kinh doanh trở lên thì phải chuyển thành DN cũng là một trong những quy định bất hợp lý, thiếu tính khả thi. Trong khi đó, những quy định áp dụng bắt buộc đối với DN như: môi trường, tiếng ồn, vấn đề phòng chống cháy nổ, mua bảo hiểm bắt buộc đối với người lao động…nhưng lại không bắt buộc áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể. Điều này cũng đang gây cản trở lớn cho quá trình chuyển lên thành DN của hộ KDCT.

Mặt khác, cũng phải kể đến một số nguyên nhân khách quan là do sự khác biệt về văn hoá, lịch sử, truyền thống, tập quán, tâm lý giữa các vùng, miền, địa phương cũng có tác động phần nào.

Trước những khó khăn như vậy, thì các nhà doanh nghiệp đi trước thường đưa ra những lời khuyên cho các hộ còn đang kinh doanh cá thể như: Nếu đã đủ khả năng và muốn phát triển thì nhất thiết phải thành lập doanh nghiệp.

4. Biện pháp

Vấn đề chuyển hộ KDCT sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp hiện đang được các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, chuyên gia kinh tế và nghiên cứu khoa học quan tâm. Theo đó thì tới năm 2010 cả nước sẽ có khoảng 500.000 DN. Và để có thể hoàn thành được kế hoạch khó khăn này thì thời gian tới cần chú trọng một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Tiếp tục tổ chức quán triệt, phổ biến sâu rộng nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức trong toàn xã hội về đường lối phát triển và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với kinh tế tư nhân. Phổ biến, tuyên truyền về những ưu thế khi chuyển từ hộ kinh doanh cá thể sang các loại hình doanh nghiệp sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý để mở rộng và phát triển kinh doanh, nhất là môi trường kinh doanh thuận lợi, khung khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch, ổn định hơn, đặc biệt là chính sách thuế; dễ dàng tiếp cận với cơ sở hạ tầng như thuê đất để tạo mặt bằng sản xuất, cũng như các nguồn vốn tín dụng, giảm áp lực trong việc quản trị đối với cơ sở sản xuất…

Thứ hai: Xây dựng khung khổ pháp lý chính thức cho khu vực kinh tế tư nhân nói chung, trong đó có các hộ kinh doanh cá thể; đặc biệt là chính sách thuế, tránh tình trạng áp dụng thuế tuỳ tiện, không rõ ràng, minh bạch; sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các văn bản pháp quy không phù hợp với thực tiễn và thiếu tính khả thi.

Thứ ba: Tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ kinh doanh cá thể trong việc phát triển thị trường, Nhà nước hỗ trợ để các hộ kinh doanh cá thể có được thông tin về thị trường trong và ngoài nước, đổi mới công nghệ, giảm chi phí một cách thấp nhất khi gia nhập thị trường; phát triển nguồn nhân lực có khả năng quản trị doanh nghiệp và đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu phát triển.

Thứ tư: Nghiên cứu cơ chế, chính sách khuyến khích các hộ kinh doanh cá thể quy mô lớn chuyển sang đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp; khuyến khích và tạo điều kiện để các HTX dịch vụ, thương mại, CN-TTCN, hộ kinh doanh cá thể ở các làng nghề chuyển sang hoạt động theo các loại hình doanh nghiệp. Nghiên cứu cơ chế, chính sách, để sớm đưa ra quy định hướng dẫn các trang trại thành lập doanh nghiệp; cần tiến hành đồng thời các biện pháp khuyến khích, hướng dẫn, trợ giúp, thúc đẩy hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp như cấp mã số thuế cho tất cả các hộ kinh doanh cá thể để tạo sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Thứ năm: Tiếp tục hoàn thiện và tăng cường quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân; tạo lập sự thân thiện, gần gũi của các cấp chính quyền địa phương trong việc đối xử đối với hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp; cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền, nhất là chính quyền địa phương.

Thực tế cho thấy, các hộ kinh doanh cá thể ở nước ta tồn tại khách quan và có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước, không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng nguồn thu cho ngân sách,… mà hộ kinh doanh cá thể còn phát triển tự nhiên, phân bổ rộng khắp, có mặt ở hầu hết các vùng, miền trên cả nước. Đặc biệt, hộ kinh doanh cá thể còn là kênh phân phối hàng hoá tới vùng sâu, vùng xa, góp phần ổn định chính trị, trật tự xã hội. Vì thế, cũng không thể áp đặt biện pháp hành chính bắt buộc các hộ kinh doanh cá thể chuyển sang loại hình doanh nghiệp.Để có thể thực hiện tốt các biện pháp nói trên thì cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chính sách hỗ trợ của nhà nứơc và việc thực hiện đúng quy định của các hộ KDCT trong cả nước.

Với những biện pháp đúng đắn trên chúng ta có thể hy vọng công cuộc chuyển đổi từ hộ KDCT sang DN sẽ gặp nhiều thuận lợi và sớm đạt đựơc kết quả như mong đợi đó là  có 500.000 DN đến năm 2010.

Tổng hợp

 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

Leave a Comment

 




 
*