Tại sao một cú shock tiền tệ danh nghĩa (nominal money shock) có thể ảnh hưởng đến những hoạt động kinh tế thực tế là một trong những câu hỏi làm đau đầu các nhà kinh tế vĩ mô nhất trong kinh tế vĩ mô hiện đại. Các nhà kinh tế vĩ mô bị chia rẽ bởi cách giải thích của họ đối với những biến động kinh tế. Trước hết chúng ta cần bắt đầu từ sự phân đôi cổ điển (Classical dichotomy). Các nhà kinh tế Cổ Điển đưa ra giả thiết của tính Trung lập tiền tệ (monetary neutrality), tức có nghĩa là tiền trên danh nghĩa chỉ có thể ảnh hưởng tới các biến số danh nghĩa, ví dụ như giá cả và lương bổng (prices and wages), nhưng không ảnh hưởng tới các biến số thực tế, ví dụ như sản phẩm thực tế và lao động. (real output and labor). Trường phái Cổ Điển, tiếng Anh gọi là the Classical school, ví dụ ta có thể liệt kê ra ông Adam Smith, Ricardo, Karl Marx, …, (thực ra các cụ này được ông Keynes đặt tên cho trong cuốn „General Theory“ của ông năm 1936.) Sau đó trường phái Tân Cổ Điển I (Neoclassical school I) ra đời mà hầu như đã chiếm lĩnh toàn bộ Trung Nguyên (theo lời bác Nguyễn Hải Sa): với những trọng tâm như là lý thuyết Ích lợi cận biên (marginal utility theory), lý thuyết Kinh tế phúc lợi (welfare economics), v.v. Nhìn chung, ta gọi cách nghiên cứu của trường phái này là theo phương pháp cân bằng cục bộ (partial equilibrium approach).
Trước năm 1936, các trường phái Anh-Mỹ giả thiết rằng giá cả dao động tự do, tiền tệ vì vậy trung lập. Sau năm 1936, ông Keynes phát biểu một câu xanh rờn: “In the long-run we are all dead.“, có lẽ là câu nói nổi tiếng nhất trong ngành kinh tế chăng? (Xin lưu ý: Tiền tệ không ảnh hưởng đến sản xuất có thể coi là một khung mẫu, theo Kuhn – ’Money Neutrality’. Gregore Mankiw ví: Cổ điển, Tân cổ điển khẳng định mặt trời xoay quanh trái đất, nhưng trên thực tế trái đất xoay quanh mặt trời, tức là tiền tệ ảnh hưởng đến sản xuất. Xem Mankiw, 1994: “A Sticky-Price Manifesto.“)
Keynes đưa ra giả thuyết tiền lương cứng nhắc để chứng minh rằng nạn thất nghiệp trầm trọng trong cuộc Đại Suy Thoái (1929; the black friday) là do vậy mà ra. Khi hệ thống ngân hàng liên bang sụp đổ vì khủng hoảng thị trường chứng khoán, mức giá cả, P, giảm sút trầm trọng, nhưng mức lương thực tế, W/P, lại tăng là vì mức lương danh nghĩa, W, bị cứng nhắc (wage rigidity). Các ông chủ sa thải công nhân vì mức lương thực tế quá cao. Cụ Keynes không trả lời tại sao nó bị cứng nhắc. Nó như thế đấy, cứ nhìn thực tế mà xem sẽ thấy thôi ;-)
Các mô hình kinh tế vĩ mô dựa trên giả thuyết tiền lương cứng nhắc của Keynes chỉ ra rằng tiến trình thích nghi không hoàn hảo của mức lương (incomplete nominal adjustment of wages) khiến cho tiền tệ danh nghĩa gây ảnh hưởng đến sản phẩm sản xuất. Khung mẫu money-nonneutrality từ đó nuôi không biết bao nhiêu nhà kinh tế vĩ mô rồi.
Exkurs:
Thực ra đã có một triết lý về sự ảnh hưởng của tiền tệ tới sản xuất từ lâu rồi. Trong cuốn “Of money“, 1752, David Hume đã từng nêu ra quan sát thực nghiệm này:
“In my opinion, it is only in the interval or intermediate situation, between the acquisition
of money and the rise in prices, that the increasing quantity of gold or silver is favourable
to industry. . . . The farmer or gardener, finding that their commodities are taken off,
apply themselves with alacrity to the raising of more. . . . It is easy to trace the money in
its progress through the whole commonwealth; where we shall find that it must first
quicken the diligence of every individual, before it increases the price of labour.”

Nếu như mức lương cứng nhắc đó còn bị ảnh hưởng bởi mức lương cứng nhắc từ những kỳ trước đó, W(t), W(t-1), …, các mô hình kinh tế vĩ mô theo truyền thống Keynesian cho thấy một sự đánh đổi thường xuyên giữa thất nghiệp và lạm phát (permanent trade-off between unemployment and inflation). A. W. Phillips (1958) khi nghiên cứu thị trường lao động Anh đã phát hiện ra mối liên hệ đảo ngược giữa lạm phát và thất nghiệp, sau này được nhà kinh tế Samuelson gọi là đường Phillips. Ông Keynes hy vọng rằng khung mẫu của ông là một cuộc cách mạng to lớn có thể thay đổi toàn bộ nền tảng của ngành kinh tế vĩ mô thời bấy giờ. Vậy mà ông Samuelson lại gói gọn cái lý thuyết tiền lương cứng nhắc của ông Keynes vào cái bao bì Tân Cổ Điển II thành một khung mẫu mới: “The Neoclassical Synthesis.” Bấy giờ trường phái Tân Cổ Điển II xuất hiện, xài tạm cái phương pháp cân bằng tổng quan kiểu walrasian (Walrasian general equilibrium approach). (Bác nào quan tâm đến lịch sử cá nhân của các cụ lớn có thể tham khảo cuốn 50 nhà kinh tế tiêu biểu của Steven Pressman, dịch sang tiếng Việt, thấy có đề tên một bác quen ở empirics.net hiệu đính nữa kia đấy ;-)
Trong thập kỷ 60, Samuelson tuyên bố xanh rờn: “We are all Keynesian now.” Ô hay, đùng một cái vào năm 1968, trong diễn văn phát biểu trước Hội đồng kinh tế Mỹ (AEA), Milton Friedman, (và Edmund Phelps, 2 cây đại thụ của trường phái Monetarism) đưa cái giả thuyết tỷ lệ tự nhiên vào kinh tế học (natural rate hypothesis). Ngày nay bất kỳ một mô hình kinh tế nào không thoát được tiêu chuẩn của giả thuyết này coi như là không đáng tin cậy. Friedman và Phelps tuyên bố rằng chẳng có mối liên hệ thường xuyên nào giữa lạm phát và thất nghiệp cả. Trong dài hạn (the long-run) giá cả và lương bổng dao động tự do, do đó tiền tệ không thể gây ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế thực tế được. Những cuộc khủng hoảng dầu mỏ trong những năm 70, cụ thể là 1973-74, 1978-79, chứng thực cho giả thuyết tỷ lệ tự nhiên này. Đường Phillips thực nghiệm (empirical Phillips curve) biến mất. Nhưng rồi Đường Phillips được phục hồi lại nhờ sự bổ sung kỳ vọng thêm vào (expectations-augmented Phillips curve). Trong ngắn hạn (the short-run) tiền tệ vẫn gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế thực tế, ta có một sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp. (Mankiw giải thích ‘sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp’ là một trong 10 nguyên lý căn bản nhất của kinh tế vĩ mô. (Xem bài nghiên cứu mới nhất của ông ta: Mankiw, “The Inexorable and Mysterious Tradeoff between Inflation and Unemployment”, 2002)
Tóm tắt lại khung mẫu Keynesian truyền thống, sự thích ứng chậm chạp của giá cả và lương bổng là mấu chốt quan trọng nhất của kinh tế vĩ mô. Nhưng trường phái new Classical xuất hiện, hò reo om xòm, muốn tống khứ ông Keynes và các môn đệ của ông ta ra khỏi ngành kinh tế. Khung mẫu money-neutrality một lần nữa lại tái sinh chống lại khung mẫu money-nonneutrality. Robert Lucas (1973) đưa ra một mô hình dựa trên giả thuyết thông tin bất đối xứng, (asymmetry of information), để chứng minh tiền tệ trung lập. Lucas lần đầu tiên đưa ra giả thiết “kỳ vọng hợp lý” (rational expectation), cách mạng hóa tư duy toàn bộ nền kinh tế vĩ mô. Lucas không chỉ chứng minh tiền tệ trung lập trong dài hạn mà còn suy rằng tiền tệ trung lập cả trong ngắn hạn. Vào năm 1976, Lucas phê phán cách nghiên cứu sai lầm của bộ môn Kinh tế lượng (econometrics), đại ý các chính sách tiền tệ bất ngờ (unanticipated monetary policy) có thể gây ảnh hưởng tới kỳ vọng hợp lý của dân chúng. Nếu như kỳ vọng hợp lý bị thay đổi, nó sẽ phá tan mối liên hệ giữa lạm phát và thất nghiệp, và hiển nhiên Đường Phillips được bổ sung thêm kỳ vọng sẽ tan biến. Và bộ môn kinh tế lượng từ đó trở đi phải thay da đổi thịt, để hồng hào như chúng ta đang ôm ấp ngày nay ;-) Một trong những cuốn sách kinh điển về toán kinh tế phải kể đến cuốn Macroeconomics của Thomas Sargent (1987, ấn bản lần thứ 2) thuộc trường phái new Classical. New Classical lại chia làm 2 trường, new Classical I với Lucas, Sargent, …, phê phán trường phái Keynesian toàn nói mồm, chẳng có chút nền tảng vi mô nào (micro-foundation) để chứng minh sự cứng nhắc của tiền lương cả, các giả thiết Keynesian chỉ được coi là “cứ như vậy thôi” (ad-hoc). Từ đó trở đi những chính sách ổn định kinh tế mất thời, nhu cầu về nó suy giảm rõ rệt so với những năm 60, khi Samuelson tưởng rằng dân kinh tế là con cháu ông Keynes rặt cả lũ hết rồi.
Hơn thế nữa, trường phái new Classical II (những ông như Plosser, Prescott) nổi lên, chỉ quan tâm tới lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế (real business cycle), hoàn toàn cự tuyệt với tiền tệ. Trong hầu hết những mô hinh sơ khai của trường phái này, rặt chẳng thấy đồng xu nào xuất hiện cả. Toàn bộ sự biến động trong kinh tế đều là do TFP gây ra (total factor of productivity), họ đuổi thẳng ông Keynes đi và ném khung mẫu money-nonneutrality của ông ta đi đâu mất. Nhưng có lẽ trường phái new Classical II đang có xu hướng thất sủng.
Vào năm 1977, để cứu vãn tình thế suy sụp của chính sách tiền tệ, Standley Fischer đưa ra một giả thuyết mới về sự cứng nhắc của tiền lương, nhân tiện xài luôn cái giả thiết “kỳ vọng hợp lý” của Lucas vào trong mô hình của mình. Trong khuôn khổ của lý thuyết độc quyền cạnh tranh (monopolistical competition), trên phương diện vĩ mô tiền lương ngày nay bị cứng nhắc do bởi một nửa số người lao động ngày nay đã phải ký kết những hợp đồng dài hạn với ông chủ từ trước đó (predetermined wages). Nếu ngày nay chính sách tiền tệ được thay đổi, thì dù cho người lao động có kỳ vọng hợp lý đi nữa thì nửa số lượng người của họ vẫn chẳng thể thích ứng ngay được. Và thế là con cháu của Keynes lại vui mừng hò reo. Tuy rằng tiền tệ gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế thực tế, nhưng mô hình nay chỉ cho thấy một sự ảnh hưởng kiêm tốn trong ngắn hạn. Năm 1979, Taylor sử dụng cái mô hình của Fischer, và điều chỉnh đôi chút về giả thiết tiền lương cứng nhắc (fixed wages, chứ không phải predetermined – but changeable in future – wages) để chứng minh ảnh hưởng dài hạn của tiền tệ đối với hoạt động kinh tế thực tế. Taylor lý luận rằng, ảnh hưởng dài hạn của tiền tệ đối với nền kinh tế là do bởi thích ứng oể oải của giá cả và tiền lương (sluggish adjustment of prices and wages).
Nhưng khổ nỗi là giả thiết của Fischer và Taylor vẫn bị coi là ad-hoc, chưa có nền tảng vi mô làm nền móng. Phải cho đến khi một số nhà nghiên cứu kinh tế thuộc trường phái new Keynesian thuộc thế hệ sau xuất hiện, khung mẫu của ông Keynes mới thật sự được phục hồi trở lại hoàn toàn. Mankiw (1985), Akerlof and Yellen (1985) giả thiết rằng sự cứng nhắc của giá cả (không phải tiền lương) ở tầm kinh tế vi mô có thể gây nên tác động không nhỏ đối với nền kinh tế vĩ mô. Giá cả (chứ không phải tiền lương) bị cứng nhắc do ông chủ phải trả chi phí in ấn nhỏ để thay đổi giá cả của mình, được gọi là “small menu costs”. Dựa trên nền móng của kinh tế vi mô, trường phái new Keynesian chứng minh rằng ảnh hưởng ngoại hiện của tổng cung “aggregate demand externalities” mà chi phi in ấn gây ra khiến cho tiền tệ danh nghĩa có thể tác động đến nền kinh tế thực tế. Tiền tệ danh nghĩa không chỉ tác động đến nền kinh tế thực tế, trường phái new Keynesian còn chứng minh rằng sự cứng nhắc thực tế tiềm ẩn trong thị trường sản phẩm và thị trường lao động (real rigidity) làm tăng thêm tác động của sự cứng nhắc danh nghĩa (nominal rigidity), khiến cho tiền tệ danh nghĩa càng tác động mạnh hơn nữa tới hoạt động kinh tế thực tế. (Xem Laurence Ball và David Romer, 1989).

Log Phantasy/Empirics

<

S.T

 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

Leave a Comment

 




 
*