Mối quan hệ hai chiều giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh tế đã và đang là một đề tài tranh cãi nóng bỏng trong lĩnh vực kinh tế phát triển. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu định lượng chuyên sâu về mối quan hệ giữa vốn FDI và tăng trưởng kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Nhưng các nghiên cứu định lượng về mối quan hệ giữa vốn FDI và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam nói chung và các vùng miền của Việt Nam nói riêng còn tương đối hạn chế. Do vậy, bài viết này sẽ cung cấp cho bạn đọc một cách nhìn tổng quan về mối quan hệ giữa vốn FDI và tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành tại Việt Nam thông qua các dữ liệu của 61 tỉnh thành của Việt Nam từ năm 1996 đến 2005. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn FDI và tăng trưởng kinh tế của các tỉnh thành tại Việt Nam có mối quan hệ tích cực hai chiều.
Tuy nhiên, mối quan hệ này chỉ hạn chế trong các tỉnh thuộc các vùng kinh tế trọng điểm như Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Đông Nam Bộ, và Đồng Bằng Sông Mêkông. Bên cạnh đó,  nghiên cứu này cũng cho thấy tác động tích cực của vốn FDI tới tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Vốn FDI chỉ tác động tích cực tới tăng trưởng của các tỉnh thành khi các tỉnh thành Việt Nam hội tụ căn bản các nhân tố về đầu tư con người,
công nghệ, nghiên cứu và phát triển, và một thị trường tài chính phát triển.   
Lời giới thiệu
FDI đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển trên thế giới. Tại các quốc gia có chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài hợp lý, FDI không chỉ làm tăng cung về vốn đầu tư mà còn có vai trò thúc đẩy chuyển giao công nghệ đặc biệt là thúc đẩy quá trình tích tụ
vốn con người, một nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh [được nghiên cứu bởi Lucas (1988&1993), Romer (1986) và Mankiw, Romer và Weil (1992)] đã nhấn mạnh vai trò của vốn con người trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài tại các nước đang phát triển. Theo quan điểm được đưa ra bởi lý thuyết tăng trưởng nội sinh, đầu tư nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bởi tính tràn công nghệ. Các công ty đa quốc gia được đánh giá là một trong những kênh chuyển giao công nghệ và làm tăng khả năng tích tụ vốn con người tại các nước tiếp nhận nguồn
vốn đầu tư thông qua các khóa đào tạo kỹ năng cho đội ngũ lao động địa phương, các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ cho các doanh nghiệp địa phương (các doanh nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào)… (Blomstrom and Kokko 1998).
Mặt khác, lý thuyết chiết trung (the Eclectic Theory of FDI), được phát triển bởi Dunning (1988) đã cung cấp một phương pháp phân tích khác về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Dựa trên phân tích về lợi thế cạnh tranh, lý thuyết này chỉ ra rằng việc thu hút nguồn vốn FDI phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố và đặc tính của nước sở tại. Một trong các nhân tố đó là tăng trưởng kinh tế. Ví dụ, Chakrabarti (2001) tranh luận rằng tăng trưởng cao tại các nước sở tại sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu thị trường và đầu tư.
Dựa trên các lý thuyết tăng trưởng nội sinh và lý thuyết chiết trung, các nhà phân tích kinh tế đã tìm thấy mối quan hệ hai chiều của FDI và tăng trưởng kinh tế. Một trong các nhà nghiên cứu đi tiên phong về mối quan hệ hai chiều này là Tsai (1994). Tsai (1994) đã ứng dụng một mô hình đồng thời để kiểm định mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế cho 62 quốc gia trong thời kỳ 1975-1978 và cho 51 quốc gia trong thời kỳ 1983-1986. Tác giả đã tìm thấy rằng FDI và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ hai chiều trong giai đoạn những năm 1980. Berthelemy và Demurger (2000) sử dụng mô hình đồng thời để kiểm định tăng trưởng kinh tế tại 24 tỉnh thành của Trung Quốc trong thời kỳ 1985-1996. Họ cũng tìm thấy mối quan hệ hai chiều của FDI và tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh thành. FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của 24 tỉnh thành và tăng trưởng kinh tế cao tại 24 tỉnh thành là một dấu hiệu tích cực để thu hút các dòng vốn FDI trong tương lai. Li and Liu (2005) sử dụng dữ liệu của 84 quốc gia trong suốt thời gian từ năm 1970-1999 và áp dụng mô hình đồng thời để kiểm định tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, cũng như mối quan hệ hai chiều giữa chúng. Các tác giả tìm thấy rằng mối quan hệ tích cực hai chiều của FDI và tăng trưởng kinh tế chỉ tồn tại trong các năm 1980s. Tuy nhiên, FDI chỉ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế khi và chỉ khi các quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư hội tụ căn bản các nhân tố về đầu tư con người, công nghệ, và một thị trường tài chính phát triển. Phân tích này phản ánh rằng tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế của một quốc gia tiếp nhận phụ thuộc rất nhiều vào đặc tính của từng quốc gia đó.
Mặc dù có rất nhiều bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và
tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên rất ít nghiên cứu hiện nay phân tích về vai trò của FDI trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các vùng và miền của các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh đó, mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại đó FDI đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại tăng trưởng kinh tế là một nhân tố quan trọng thu hút vốn FDI cần được nghiên cứu và khám phá hơn nữa tại các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam. Do vậy, bài viết này sẽ tập trung phân tích mối quan hệ hai chiều của FDI và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, đặc biệt phân tích về mối quan hệ hai chiều này tại các vùng miền của Việt Nam, để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp nhằm thu hút và sủ dụng hiệu quả nguồn vốn FDI.
Việc phân tích mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam nói chung và các vùng miền Việt Nam nói riêng là cần thiết bởi vì: một trong những mục tiêu của chính sách Đổi Mới, được phát động vào năm 1986, là thu hút vốn đầu tư FDI nhằm mục tiêu tăng cung về đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó, đầu tư FDI phân bổ không đồng đều trong cả nước. Do vậy, luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1996 khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các tỉnh vùng sâu vùng xa, nơi điều kiện kinh tế còn tương đối hạn chế như Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, và Tây Nguyên. Dựa trên cơ sở các yếu tố trên cũng như số liệu công bố của Tổng cục Thống kê (GSO), Cục Đầu tư Nước ngoài-Bộ Kết hoạch Đầu tư (MPI), Bộ Công Thương (MOI), và Bộ Lao động và Thương binh xã hội (MOLISA), bài viết sẽ sử dụng số liệu của 61 tỉnh thành của Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2005 để phân tích.
Phân tích thực nghiệm
Dựa trên các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế nội sinh và FDI, mô hình về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành của Việt Nam sẽ được ước lượng thông qua hệ phương trình sau:
kihieu.jpg
Tại đó: i được định nghĩa là tỉnh, t được định nghĩa là thời gian.

Bảng 1: Định Nghĩa Các Biến Và Nguồn Dữ Liệu

table1.jpg

Bảng 1 trình bài định nghĩa các biến trong hệ phương trình, kỳ vọng dấu của hệ số các biến giải thích được trình bày trong bảng 2. Bên cạnh đó, bài viết này sẽ sử dụng phương pháp ước lượng GMM (Generalized Method of Moments), phương pháp này được đánh giá là hiệu quả và tối ưu trong việc khắc phục các hiện tượng đa cộng tính và phương sai sai số thay đổi trong mô hình hồi quy hơn các phương pháp truyền thống như hai giai đoạn (2SLS), và ba giai đoạn (3SLS).

Bảng 2: Kỳ vọng về mối quan hệ giữa các biến giải thích và các biến phụ thuộc
table2.jpg

Chú ý: + và – đại diện cho mối quan hệ dương (tích cực) và âm (tiêu cực). n.a: không được ứng dụng.
Sau khi ước lượng và thỏa mãn các kiểm định như Hansen test, Durbin-Wu-Hausman test, và Pagan-Hall test để đảm bảo ước lượng chính xác (xem bảng 3, 4, và 5), phương pháp GMM cho chúng ta kết quả như sau:
Kết quả ước lượng được trình bày trong bảng 3, 4 và 5 cho thấy FDI là một nhân tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành của Việt Nam trong suốt thời kỳ 1996-2005. Hệ số ước lượng của FDI trong cột 1 của bảng 3 có mức ý nghĩa về mặt thống kê là 1% và chỉ ra rằng với điều kiện các nhân tố không đổi, việc tăng 1000 VND trong vốn FDI bình quân đầu người làm mức tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành của Việt Nam tăng lên khoảng 0.000054%. Điều này nói lên rằng FDI tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành của Việt Nam. Bên cạnh đó, các nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành của Việt Nam là xuất khẩu, chi tiêu chính phủ, phát triển tài chính, tăng trưởng lao động, học và làm (learning by doing), vốn con người, và tỷ giá hối đoái. Hệ số ước lượng của các nhân tố này có mức ý nghĩa về mặt thống kê và đúng với
kỳ vọng của tác giả.

Bảng 3: Kết Quả Ước Lượng Phương Trình 1: Thời Kỳ 1996-2005
table3.jpg

Chú ý: (i) Thống kê T-statistics trong ngoặc; (ii) *** ý nghĩa ở mức 10%, ** ý nghĩa ở mức 5%, và * ý nghĩa ở mức 1%
Bảng 4 cho thấy tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành của Việt Nam có tác động tích cực tới thu hút FDI vào Việt Nam. Hệ số ước lượng của biến tăng trưởng kinh tế là dương và có mức ý nghĩa về mặt thống kê là 5%. Hệ số ước lượng này cho thấy với điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu tăng trưởng kinh tế tăng lên khoảng 1% thì sẽ làm vốn FDI bình quân đầu người tăng lên khoảng 993000 VND. Điều này phản ánh rằng tăng trưởng kinh tế cao tại Việt Nam phản ánh dấu hiệu tích cực về nền kinh tế Việt Nam tới các nhà đầu tư nước ngoài. Kết quả cũng cho thấy GDP bình quân đầu người, một nhân tố phản ánh quy mô thị trường trong nước, càng cao thì càng có sức thu hút lớn tới các nhà đầu tư. Các nhân tố khác như
hệ thống tài chính trong nước, kỹ năng người lao động, cơ sở hạ tầng, chi phí lao động thấp, và tỷ giá hối đoái cũng là các nhân tố quan trọng thu hút FDI vào Việt Nam. 

Bảng 4: Kết Quả Ước Lượng Phương Trình 1: Thời Kỳ 1996-2005
table4.jpg

Chú ý: (i) Thống kê T-statistics trong ngoặc; (ii) *** ý nghĩa ở mức 10%, ** ý nghĩa ở mức 5%, và * ý nghĩa ở mức 1%
Như chúng ta đã biết, FDI không phân bổ đồng đều tại các tỉnh thành và các vùng của Việt Nam. Phần lớn FDI tập trung tại các tỉnh thành miền Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Bà rịa Vũng tàu, và tại các tỉnh thành miền Bắc như Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, và Quảng Ninh. Do vậy, chúng ta sẽ mở rộng mô hình bằng việc đưa vào trong mô hình một biến giả đại diện cho các tỉnh thành tại đó có tập trung phần lớn các dự án FDI. Nó kỳ vọng rằng các tỉnh thành, nơi có điều kiện tốt về hệ thống tài chính, cơ sở hạ tầng,
lao động có kỹ năng, và thu nhập cao sẽ có xu hướng thu hút FDI nhiều hơn và tăng trưởng kinh tế nhanh hơn các tỉnh thành khác. Kết quả ước lượng chỉ ra rằng các tỉnh thành phố tại các vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ nơi có cơ sở hạ tầng, lao động có kỹ năng tốt hơn, tăng trưởng cao hơn, và quy mô thị trường lớn hơn sẽ thu hút nhiều vốn FDI hơn (xem kết quả cột 2 bảng 4).

Bảng 5: Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành thông qua khả năng hấp thụ tại các địa phương
table5.jpg

Chú ý: (i) Thống kê T-statistics trong ngoặc; (ii) *** ý nghĩa ở mức 10%, ** ý nghĩa ở mức 5%, và * ý nghĩa ở mức 1%
Các nghiên cứu gần đây cũng nhấn mạnh tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào khả năng hấp thụ của nền kinh tế của các nước sở tại. Bảng 5 trình bày tác động của FDI tới tăng trưởng các tỉnh thành của Việt Nam thông qua đo lường tính hấp thụ. Như được trình bày trong bảng 5, hệ số ước lượng tác động qua lại giữa các biến FDI và nguồn vốn con người là dương và có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 5% nhưng hệ số của biến FDI trong cột 2 của bảng 5 là âm và không có ý nghĩa về mặt thống kê. Điều này phản ánh rằng FDI chỉ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành của Việt Nam khi và chỉ khi các tỉnh thành của Việt Nam có hội tụ một lượng vốn cơ bản về con người. Tương tự như vậy, hệ số ước lượng tác động qua lại giữa các biến FDI và hệ thống thị trường tài chính cũng cho thấy là âm và có mức ý nghĩa thống kê là 5%. Điều này hàm ý rằng một hệ thống tài chính phát triển căn bản là điều kiện ban đầu để FDI đem lại tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.
Một phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa FDI, tăng trưởng kinh tế, khoảng cách công nghệ, và nghiên cứu và phát triển (R&D)

Lý thuyết tăng trưởng nội sinh chỉ ra rằng các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) và khoảng cách công nghệ tại các nước tiếp nhận đầu tư ảnh hưởng vô cùng quan trọng tới khả năng hấp thụ FDI của các nền kinh tế. Do đó, chúng ta sẽ xem xét vai trò của R&D một nhân tố tác động tích cực tới vốn con người, và khoảng cách công nghệ tới khả năng hấp thụ FDI tại 61 tỉnh thành của Việt Nam trong thời kỳ 1996-2005. Trong phương trình 1, chúng ta sẽ đưa các biến R&D, được đo lường bằng đầu tư của chính phủ vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển tại 61 tỉnh thành, và khoảng cách công nghệ, được đo lường bằng khoảng cách công nghệ giữa các doanh nghiệp có vốn FDI và các doanh nghiệp trong nước, vào phương trình. Chúng ta kỳ vọng rằng R&D sẽ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế và khoảng các công nghệ càng lớn sẽ cản trở sự tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành của Việt Nam. Bởi vì mối quan hệ giữa biến R&D và biến vốn con người (HC) có hiện tượng quan hệ tương quan cao. Do vậy, tác giả sẽ không sử dụng biến HC trong mô hình.
Cột 1 bảng 6 chỉ ra rằng hệ số của biến R&D là dương và có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 10%. Điều này có nghĩa rằng việc đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và phát triển có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn 1996-2005. Bên cạnh đó, hệ số ước lượng của khoảng cách công nghệ cho thấy các tỉnh thành nơi có khoảng cách công nghệ tương đối nhỏ sẽ tăng trưởng nhanh hơn các tỉnh thành khác. Chúng ta tiếp tục khám phá khả năng hấp thụ FDI của 61 tỉnh thành Việt Nam thông qua các yếu tố R&D và công nghệ. Cột 2 và 3 bảng 6 cho thấy hệ số ước lượng tác động qua lại giữa các biến FDI và R&D là âm và có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 5%. Điều này phản ánh rằng FDI chỉ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành Việt Nam khi các tỉnh thành này có một mức đầu tư căn bản cho các hoạt động R&D. Tương tự như vậy, hệ số ước lượng của biến khoảng cách công nghệ và biến FDI là âm và có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 1%. Ước lượng này hàm ý FDI chỉ đem lại lợi ích cho tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành Việt Nam khi các tỉnh thành này có một mức tối thiểu về công nghệ.

Bảng 6: Tăng trưởng kinh tế và FDI: Sử dụng các biến R&D và khoảng cách công nghệ
table6.jpg

Chú ý: (i) Thống kê T-statistics trong ngoặc; (ii) *** ý nghĩa ở mức 10%, ** ý nghĩa ở mức 5%, và * ý nghĩa ở mức 1%
FDI và tăng trưởng kinh tế tại các vùng và miền của Việt Nam
Cuối cùng để đánh giá mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại các vùng và miền của Việt Nam, bài viết này tách dữ liệu của 61 tỉnh thành trong thời gian từ năm 1996-2005 thành 7 vùng kinh tế bao gồm: Đồng Bằng Sông Hồng, Vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, và Đồng Bằng Sông Mêkông (bởi vì dữ liệu về FDI quá ít tại các tỉnh thuộc Vùng Tây Bắc, do vậy nghiên cứu này không thể ước lượng tác động của Vùng Tây Bắc).
Kết quả ước lượng từ bảng 7 cho thấy FDI chỉ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế tại các vùng kinh tế như Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Mêkông, nơi có điều kiện tương đối về cơ sở hạ tầng, hệ thống giáo dục và hệ thống tài chính. Nhìn vào ước lượng của bảng 8, chúng ta có thể thấy ngoại trừ vùng Bắc Trung Bộ, tăng trưởng kinh tế tại hầu hết các vùng miền của Việt Nam đều phản ánh dấu hiệu tích cực
thu hút đầu tư nước ngoài. Kết quả ước lượng cho thấy giả thuyết về mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chỉ giới hạn trong các vùng Đồng Bằng Bắc Bộ, Đông Bắc, Đông Nam Bộ, và Đồng Bằng Sông Mêkông.

Bảng 7: FDI và Tăng Trưởng Kinh tế tại các Vùng và Miền của Việt Nam – Ước Lượng Phương Trình (1)
table7.jpg

Chú ý: (i) Thống kê T-statistics trong ngoặc; (ii) *** ý nghĩa ở mức 10%, ** ý nghĩa ở mức 5%, và * ý nghĩa ở mức 1%

Bảng 8: FDI và Tăng Trưởng Kinh tế tại các Vùng và Miền của Việt Nam – Ước Lượng Phương Trình (2)
table8.jpg

Chú ý: (i) Thống kê T-statistics trong ngoặc; (ii) *** ý nghĩa ở mức 10%, ** ý nghĩa ở mức 5%, và * ý nghĩa ở mức 1%
Kết luận

Bài viết trên đã kiểm định mối quan hệ hai chiều giữa vốn FDI và tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành Việt Nam từ năm 1996-2005 thông qua ước lượng một mô hình kinh tế lượng đồng thời gồm hai phương trình tăng trưởng kinh tế và vốn FDI. Kết quả ước lượng đã cho thấy trong giai đoạn 1996-2005, FDI và tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành cả nước có mối quan hệ hai chiều tích cực, FDI tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành cả nước, và tăng trưởng kinh tế cao tại 61 tỉnh thành là dấu hiệu tích cực để thu hút các nhà đầu tư đến Việt Nam. Tuy nhiên, tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của các điểm đến. FDI chỉ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế khi các tỉnh thành của Việt Nam hội tụ cơ bản các yếu tố như đầu tư con người, công nghệ, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, và một thị trường tài chính phát triển. Bên cạnh đó, mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chỉ giới hạn trong các vùng Đồng Bằng Bắc Bộ, Đông Bắc, Đông Nam Bộ, và Đồng Bằng Sông Mêkông. Điều này phản ánh rằng các chính sách và mục tiêu của Chính phủ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua FDI tại các vùng sâu vùng xa như Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Bắc, và Tây Nguyên được thể hiện trong
luật đầu tư và thông tư hướng dẫn thực sự chưa đem lại hiệu quả.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy FDI và xuất khẩu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh FDI tại Việt Nam có xu hướng thúc đẩy xuất khẩu trong khu vực công nghiệp. Hơn thế nữa, các nhân tố cơ sở hạ tầng, thị trường tài chính, kỹ năng lao động, chi phí lao động thấp, và vốn đầu tư con người là các nhân tố quan trọng để hấp dẫn các nhà đầu tư đến Việt Nam. Do vậy, để thu hút vốn FDI đến Việt Nam ngày càng nhiều hơn, Chính quyền trung ương cũng như chính quyền địa phương nên chú trọng tới đầu tư vào cơ sở hạ tầng, kỹ năng đội ngũ lao động, vốn con người như cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục, kiến thức, đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển tại các địa phương, cải cách thị trường tài chính, nâng cấp công nghệ để có thể thu hút và hấp thụ vốn FDI vào Việt Nam nói chung cũng như vào các địa phương nói riêng một cách hiệu quả. Đặc biệt các tỉnh thành tại các vùng kinh tế như Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Bắc, và Tây Nguyên cần được quan tâm và chú trọng đầu tư có hiệu quả để thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư FDI.
Mặc dù, kết quả nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ hai chiều của FDI và tăng trưởng kinh tế tại 61 tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn 1996-2005. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trên không thể tính toán được các tác động riêng rẽ của FDI tới tăng trưởng tại các tỉnh thành tại khu vực Bắc Trung Bộ như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Nam Trung Bộ như Quảng Nam…, và các khu vực vùng núi phía Bắc như Bắc Cạn, Tuyên Quang, Điện Biên, Lai Châu… là các tỉnh chỉ thu hút được một lượng vốn FDI hạn chế. Thực tế cho thấy, tác động tích cực của FDI tới tăng trưởng của các tỉnh thành này tương đối yếu hoặc gần như không có. Điều này không được đề cập trong bài viết này. Tuy nhiên, tác giả sẽ phân tích rõ về nguyên nhân cũng như kết quả trong các nghiên cứu sau.
Bên cạnh đó trong 7 tháng đầu năm 2008, FDI đã đạt tới con số 45,2 tỷ USD và phân bổ không cân đối trong các lĩnh vực (khu vực bất động sản và du lịch chiếm 47,6%, trong khi khu vực nông nghiệp là 0,5%) điều này có thể phá vỡ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ. Hơn thế nữa việc gia tăng FDI đang có xu hướng làm trầm trọng hơn
cán cân thương mại cụ thể là thâm hụt thương mại. Trong 6 tháng đầu năm 2008, giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn FDI ước tính là 11,3 tỷ USD trong khi đó nhập khẩu của chúng chiếm 13,9 tỷ USD. Thâm hụt thương mại của các doanh nghiệp có vốn FDI ước tính chiếm 18% tổng thâm hụt thương mại cả nước. Ngoài ra, Việt Nam chưa xác định được vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu (global value chain) trong khi các nhân tố để tiếp nhận và hấp thụ vốn FDI thì chưa thực sự chuẩn bị và phát triển đầy đủ như tài chính, công nghệ, vốn con người, giáo dục và đào tạo đặc biệt là đào tạo nghề. Mục tiêu của các doanh nghiệp có vốn FDI là lợi nhuận chứ không nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam, do vậy đòi hỏi các Chính phủ phải có các chính sách kinh tế kịp thời và phù hợp để ứng phó với diễn biến của FDI trong năm 2008 và các năm tiếp theo. Các doanh nghiệp có vốn FDI có thể đến và ra khỏi Việt Nam nếu họ không có lợi nhuận. Sony đã tuyên bố đóng của tại Việt Nam, trong tương lai điều này có thể sẽ xẩy ra tương tự đối với các doanh nghiệp trong khu vực sản xuất ôtô xe máy, nơi ngành công nghiệp phụ trợ (supporting industries) chưa thực sự được phát triển. 
Lời cảm ơn:
Bài viết này đã được trình bày tại Diễn Đàn Phát Triển Việt Nam (VDF), Hội thảo Kinh tế lượng Khu vực Châu Á Thái Bình Dương 2007 (ESAM-07), và hiện đang trong quá trình sửa chữa để xuất bản tại tạp chí Asia Pacific Business Review. Do vậy, tác giả rất mong sự đóng góp ý kiến của các bạn SAGA để bài viết được tốt hơn. Xin trân trọng cảm ơn!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Berthelemy, J. & Démurger, S. (2000) Foreign direct investment and economic growth: Theory and application to China, Review of Development Economics, 4 (2), pp. 210-250.
  2. Blomstrom, M. & Kokko, A. (1998) Multinational corporations and spillovers, Journal of Economic Surveys, 12 (3), pp. 1-31.
  3. Chakrabarti, A. (2001) The determinants of foreign direct investment: sensitivity analyses of cross-country regressions, Kyklos, 54, pp. 89-113.
  4. Dunning, J. (1988) The eclectic paradigm of international production: A restatement and some possible extensions, Journal of International Business Studies, 19, pp. 1-31.
  5. Li, X. & Liu, X. (2005) Foreign direct investment and economic growth: An increasingly endogenous relationship, World Development, 33, pp. 393-407.
  6. Lucas, R. (1988) On the mechanics of economic development, Journal of Monetary Economics, pp. 22, 3-42.
  7. Lucas, R. (1993) On the determinants of U.S. direct investment in the E.E.C: Further evidence, European Economics Review, 13, pp. 93-101.
  8. Mankiw, N., Romer, D. & Weil, D. (1992) A contribution to the empirics of economic growth, The Quarterly Journal of Economics, 107, pp. 408-437.
  9. Romer, M. (1986) Increasing returns and long-run growth, Journal of Political Economy, 94, pp. 1002-1037.
  10. Tsai, P. (1994) Determinants of FDI and its Impact on Economic Growth, Journal of Economic Development, 19, pp. 137-162.

© www.saga.vn | Nguyễn Phi Lân, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

Leave a Comment

 




 
*