Nghiên cứu tình huống xây dựng giải pháp cấu trúc khoản vay giữa ngân hàng và khách hàng là công ty có quan hệ tín dụng lâu năm và đang mang lại các khoản lợi nhuận quan trọng cho ngân hàng.

Các đàm phán với Padgett Paper Products Company đã diễn gần một năm. Francis Libris hy vọng thời điểm tiến tới những kết luận mang lại sự hài lòng chung sẽ sớm đến gần. Nếu không, Padgett có lẽ phải tìm tới một ngân hàng khác để huy động nguồn lực. Mặt khác, Libris cũng sẽ phải đối diện với những chỉ trích từ các cấp lãnh đạo cao hơn của công ty với những thất bại trong kiểm soát và xây dựng các mối quan hệ phù hợp. Libris là phó chủ tịch của Calson Trust Company tại Richmond, Virginia, một trong những ngân hàng lớn nhất của bang này. Ông đảm nhiệm vai trò đứng đầu Trung tâm Tín dụng thương mạicủa ngân hàng, và Padgett mở tài khoản tại đây bởi một lý do thật thú vị: văn phòng làm việc của Padgett nằm ở tầng trên của cùng tòa nhà với Trung tâm. Tài khoản của Padgett thuộc diện có qui mô lớn với Trung tâm Tín dụng thương mại và đóng góp đặc biệt quan trọng vào lợi nhuận của trung tâm.

Padgett thường xuyên sử dụng các khoản tín dụng nhỏ từ ngân hàng Calson kể từ khi họ mở tài khoản tại đây vào năm 1947. Thậm chí, việc công ty này thực hiện các hoạt động thâu tóm một số công ty nhỏ khác (có qui mô dưới 1 triệu đô-la Mỹ) trong thập kỷ 1980 cũng không làm phát sinh các khoản nợ lớn. Kế hoạch thâu tóm lại đối thủ cạnh tranh mà từ lâu Padgett thèm muốn, với mức giá hấp dẫn nhưng phải thanh toán ngay, vào đầu năm 1996, đã khiến Padgett cần gấp một khoản vay bổ sung từ ngân hàng trị giá 3,6 triệu USD. Vào thời điểm đó, tổng số nợ của họ với ngân hàng cũng ở mức 3,6 triệu USD. Như vậy, tổng dư nợ tín dụng mà Calson dành cho Padgett sẽ tăng lên 7,2 triệu USD, vượt quá hạn mức tín dụng đã được hai bên thỏa thuận và phê duyệt là 5 triệu USD. Mặc dù vậy, yêu cầu của Padgett vẫn được chấp thuận với một hướng dẫn nội bộ về hạn mức tín dụng 8 triệu USD, và vẫn duy trì mức lãi suất hấp dẫn. Libris đã làm việc kể từ khi đó tới nay để cấu trúc các khoản dàn xếp tài chính trên cơ sở có trật tự hơn với các tín phiếucó kỳ hạn 90 ngày, không có điều khoản bảo vệ.

Thời điểm đang xem xét là tháng Giêng năm 1997. Libris hy vọng sẽ có thể đưa một số những điều khoản mới vào các cam kết tín dụng với Padgett và như thế ngân hàng sẽ phản ánh được trong báo cáo tài chính của năm tài khóa 1997, kết thúc vào ngày 30 tháng Tư. Cơ hội vẫn còn nếu như thỏa thuận đạt được trước khi các kiểm toán viên kết thúc công việc, khoảng chừng 2 tháng sau khi Padgett kết thúc năm tài khóa của họ, các kết quả này sẽ được ghi nhận trong báo cáo kiểm toán. Tuy nhiên, Libris mong muốn, thỏa thuận này đạt được trước khi năm tài khóa kết thúc để có thể tránh được các phiền phức (có thể phát sinh).

Libris băn khoăn liệu có nên nhìn vào tình huống hiện tại từ một góc nhìn mới mẻ khác. Trên thực tế, ông đã cố gắng thuyết phục từ ban lãnh đạo của Padgett cho tới bộ phận tài chính của công ty này xem xét các yêu cầu về khoản vay dài dạn từ một công ty bảo hiểm nhân thọ. Khi vị phó tổng giám đốc tài chính từ chối đề xuất chuyển nhượng riêng lẻ, Libris quyết định cân nhắc việc khoản nợ có thể được thanh toán thế nào cho ngân hàng trong khoản thời gian đã được các cấp lãnh đạo của ngân hàng gợi ý. Với các kết quả đạt được trong thời gian qua, ông bắt đầu suy nghĩ rằng những giới hạn có thể không phù hợp với tình thế hiện tại và một giải pháp sáng tạo hơn có thể sẽ được chấp nhận từ cả hai phía, Calson và Padgett. Do Libres hiểu rằng ông cần nhận được chấp thuận từ các cấp lãnh đạo ngân hàng trước khi đưa ra các ý tưởng mới với Padgett, khoảng thời gian cho phép đang ngày càng thu ngắn lại. Ông cần phải xây dựng các kịch bản với cả quyết định cũ và các giải pháp thấy thế mới- dường như khả quan hơn.

Công ty Padgett Paper Products

Padgett Paper Products là công ty đại chúng với cổ phiếu công ty được giao dịch trên thị trường OTC, sản xuất đồ văn phòng phẩm như sổ sách, giấy bìa, biểu mẫu, giấy tập… Công ty có lịch sử kinh doanh trên 100 năm. Quyền sở hữu công ty phần lớn vẫn thuộc về dòng họ sáng lập, giờ đã là một nhóm cá nhân khá đông. Một số thành viên gia đình tham gia hoạt động quản trị doanh nghiệp. Một số liên kết với công ty qua mỗi lần trả cổ tức theo quý. Một số khác sống nhờ vào cổ tức hàng tháng từ công ty. Phần lớn cổ đông coi Padgett như một khoản đầu tư có tính thanh khoản rất thấp bởi thị trường dành cho cổ phiếu của công ty thực sự nhỏ. Một khoản thanh toán lớn sẽ là mối quan tâm hàng đầu của các ban lãnh đạo công ty.

Đội ngũ quản trị của công ty có năng lực chuyên nghiệp, trách nhiệm và điều hành khá hiệu quả. Công việc điều hành phần lớn liên quan tới hoạt động tại các nhà máy và marketing, và do văn phòng điều hành tại Richmond thực hiện. Libres cũng quan sát được rằng, đội ngũ quản trị không có xu hướng tài chính.

Padgett có khoảng 5.000 khách hàng là các đại lý và nhà phân phối tại Hoa Kỳ và Canada. Không một khách hàng hay nhóm khách hàng nào chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu doanh thu của Padgett. Điều khoản thanh toán là 20% chiết khấu nếu thanh toán trong vòng 30 ngày nhưng rất ít khách hàng nhận khoản chiết khấu này. Đa phần khách hàng kéo dài thời gian thanh toán thêm 30 ngày. Việc kinh doanh của Padgett cũng có đỉnh theo mùa vụ vào cuối hè khi doanh thu bán hàng tăng lên do học sinh-sinh viên trở lại trường học.  Do công ty đã cố gắng duy trì lượng hàng sản xuất ra nhằm giảm chi phí với một đơn vị sản phẩm vào thời điểm thị trường cạnh tranh cao, nhu cầu vay vốn của Padgett cũng có dao động đạt đỉnh vào cuối mùa hè ở mức khoảng 2 triệu USD.

Việc hợp nhất được Padgett thực hiện vào cuối thập kỷ 1970, chủ yếu do mức lạm phát cao ở giai đoạn này khiến các công ty nhỏ gặp nhiều khó khăn về tài chính. Các vấn đề tài chính và hàng tồn kho đã dẫn tới suy thoái ở đầu thập kỷ 1980 và giảm mạnh hơn mức độ cạnh tranh trên thị trường. Thay đổi chính sách thuế mang lại những động lực mới để các công ty qui mô nhỏ đẩy mạnh kinh doanh. Thị trường chứng khoán rơi mạnh vào tháng Mười 1987 khiến một số cổ đông lo lắng và tìm cách bán đi cổ phiếu của công ty. Ở thời điểm gần nhất, giá giấy đột ngột tăng cao, tới hơn 50% so với thời điểm giữa năm 1994, và vượt qua mức cao kỷ lục của những năm 1988-1989, một lần nữa tạo ra căng thẳng tài chính cho các công ty như Tri-State Tablet. Các áp lực này dần trở nên đủ lớn, và số nhân giá-thu nhập cũng đủ hấp dẫn khi mà thị trường vốn cổ phần bùng nổ, rất nhiều công ty được rao bán, trong đó có cả Tri-State Tablet. Tri-State Tablet không thể chuyển phần tăng giá cho các khách hàng của mình do áp lực cạnh tranh mạnh mẽ từ các công ty giấy đã được hợp nhất. Với trường hợp của Padgett, việc giảm thuế suất giúp công ty bù đắp cho mức lợi nhuận thấp hơn.

Trong nhiều năm, không ít đối thủ cạnh tranh của Padgett đã phải chấp nhận để cho các công ty quốc gia, có tiềm lực tài chính và năng lực bán hàng mạnh hơn, mua lại. Phản ứng của ban lãnh đạo Padgett là thâu tóm những công ty nhỏ hơn để bổ sung cho năng lực sản xuất và chiếm lĩnh thị trường. Việc mua lại đối thủ đáng kể, Tri-State Tablet vào tháng Tư năm 1996 là đỉnh cao của các nỗ lực này.

Trong báo cáo kiểm toán với các báo cáo tài chính năm 1996 của Padgett, kiểm toán viên đã có ý kiến rằng các nội dung báo cáo không tuân thủ đầy đủ chuẩn mực kế toán. Phương pháp khấu hao theo đường thẳng được sử dụng với mục đích báo cáo thuế nhằm tăng phần giá trị khấu hao. Hàng tồn kho được định giá ở mức chi phí thấp hơn (FIFO) hoặc trên cơ sở thị trường mặc dù lượng tiền tiết kiệm được nhờ các ưu đãi thuế sẽ thay đổi nếu sử dụng phương pháp LIFO. Ban lãnh đạo của Padgett đã luôn kết luận rằng không cần thiết phải thay đổi phương pháp hạch toán giá trị hàng tồn kho và như vậy sẽ làm mọi chuyện phức tạp một cách không cần thiết.

Quan hệ của Padgett với Ngân hàng Calson

Ngân hàng Calson đã luôn là ngân hàng duy nhất cho Padgett vay vốn ngay từ khi hai bên bắt đầu quan hệ kinh doanh cho tới đầu năm 1997. Trong số các lợi ích của mối quan hệ này, Padgett sử dụng ngân hàng Calson như đơn vị lưu ký cho các khoản thanh toán thuế với liên bang và Virginia. Nhờ đó, trong năm 1997, số dư thu bình quân của Padgett tại Calson là 524.00 USD. Mức bình quân với các công ty trực thuộc và chi nhanh là 231.000 USD. Tổng dư nợ Calson đã cung cấp cho Padgett dao động từ 3,3 triệu USD đến 7,2 triệu USD, bình quân là 5,05 triệu USD. Khoản vay này đã được tất toán trong khoản thời gian từ 31/3/1993 đến 8/1/1994.

Padgett duy trì một khoản tiền gửi nhỏ với Phoenix, một ngân hàng lớn tại Bắc Carolina. Ngân hàng này từ lâu đã nỗ lực có được vai trò quan trọng hơn trong cấu trúc tài chính của Padgett. Thêm vào đó, một số ngân hàng địa phương đã từng được công ty sử dụng với các nhà máy đặt trong cùng khu vực.

Tốc độ của quá trình thâu tóm Tri-State Tablet đã không cho phép tiến hành xây dựng các kế hoạch dàn xếp tài chính cẩn trọng. Libris và đội ngũ của mình đã rất miễn cưỡng chấp nhận tăng gấp đôi khoản vay của Padgett mà không có các chương trình tài chính cấu trúc được chuẩn bị kỹ lưỡng cũng như các điều khoản bảo vệ thích hợp. Đối với Libris, đó là những câu hỏi cần sớm được trả lời. Vị phó chủ tịch đã được ủy quyền phê duyệt khoản vay và xác định một hạn mức tín dụng tạm thời là 8 triệu USD. Tuy nhiên, khoản vay này cũng được trông đợi sẽ sớm được chính thức cấu trúc trước tháng Một 1997. Không thực hiện được cam kết này đối với Libris là một sự hổ thẹn. Ông hiểu rõ rằng đi kèm với sự xấu hổ là sự đổ vỡ của kế hoạch lợi nhuận, nếu như ông để Phoenix có được cơ hội này.

Ngay khi số tiền cần thiết cho việc thâu tóm Tri-State Table được xác định, Libris đã gặp John Ruhl, phó tổng giám đốc phụ trách tài chính của Padgett để thảo luận về các kế hoạch của công ty. Dựa trên các nội dung trao đổi, Libris và phòng tín dụng của Calson đã thiết lập dự báo tài chính của Padgett cho các năm tài khóa từ 1997 đến 2000.

Libris lo lắng khi biết rằng, thậm chí với các giả thuyết mà ông cho rằng sẽ tối thiểu nhu cầu sử dụng vốn, Padgett vẫn còn một khoản nợ ngắn hạn 4,4 triệu USD vào cuối năm 2000. Giả sử rằng công ty có thể tạo ra 1 triệu USD tiền mặt (và sẽ không dùng vào việc gì) trong mỗi năm tiếp theo thì vẫn cần tới 8 năm để trả hết món nợ này. Điều này rất đáng quan tâm bởi khoản nợ sẽ quá dài so với thời hạn 5 năm mà một ngân hàng thường áp dụng với các công ty có cùng qui mô như Padgett. Calson sẵn sàng cung cấp khoản tín dụng với kỳ hạn 6 năm để duy trì mối quan hệ quan trọng, nhưng khoản vay 7 năm thì hơi quá lâu cho một công ty như Padgett, vốn không có khả năng huy động tài chính linh hoạt và dễ dàng từ thị trường vốn đại chúng.

Libris đã quyết định cần thiết phải kêu gọi một công ty bảo hiểm cùng tham gia tài trợ. Sau khi gặp gỡ với một số công ty, ông đã viết cho Ruhl và đề xuất một khoản vay từ 12 đến 15 năm và đưa kèm các điều kiện một công ty bảo hiểm có thể đặt ra. Ông cũng chỉ ra rằng Calson có thể cấu trúc một khoản tài chính cho phép ngân hàng đáp ứng các nhu cầu có tính thời điểm trong khi công ty bảo hiểm sẽ đáp ứng yêu cầu cơ bản và dài hạn của lượng vốn 5 triệu USD.

Phản hồi của Ruhl thật sự tiêu cực. Một mặt đánh giá cao các thông tin nhận được, Rulh cho biết ban lãnh đạo Padgett tin rằng mức lãi suất cố định với khoản vay dài hạn đang áp dụng là quá cao. Mặc dù mức lãi suất hấp dẫn này vẫn ở dưới mức đỉnh của năm 1995, nhưng các thành viên của ban lãnh đạo Padgett vẫn rất bi quan với tương lại của nền kinh tế. "Các chính trị gia ưu thích mức lãi suất thấp trước cuộc bầu cử," Ruhl nói, "nhưng họ sẽ thanh toán mọi phí tổn sau đấy. Tôi nghĩ rằng họ đang bơm nền kinh tế lên vào lúc này. Chúng ta sẽ sớm có mức lãi suát cao sau cuộc bầu cử và sau đó là một thời kỳ suy thoái." Dù vậy, ông này cũng thừa nhận, việc lặp lại của mức lãi suất như thập kỷ 1970 sẽ một lần nữa có tác động nghiêm trọng tới Padgett.

Hơn thế, ban lãnh đạo của Padgett không thích ý tưởng về tập hợp các điều khoản ràng buộc. Ruhl nói rằng ông đặc biệt không thích các điều khoản đưa côn ty vào tình trạng vỡ nợ mà không có các hành động rõ ràng từ đội ngũ quản trị. "Ví dụ như với việc vi phạm tỉ lệ nợ-vốn," Ruhl nói, "có thể xuất hiện như kết quả của một năm kinh tế khó khăn chứ không phải do những gì chúng tôi đã thực hiện. Tôi không phiền khi đồng ý rằng sẽ không vay hoặc trả cổ tức khi tình huống này xuất hiện nhưng tôi chỉ không thấy hợp lý khi có rất nhiều yếu tố xảy đến nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi. Tôi thấy không thể đồng ý với các điều khoản kỹ thuật này." Ruhl đã chỉ ra rằng ông ta không thấy có vấn đề gì với các khoản vay hiện tại, thân thiện và không chính thức. "Sau cùng," Ruth nói, "nối ông không hài lòng với những gì chúng ta đang thực hiện- bất cứ điều gì, ông có thể đòi lại toàn bộ khoản vay vào cuối mỗi kỳ 90 ngày. Như vậy chẳng phải cách bảo vệ tốt hơn đối với ông thay vì các cam kết thời trang hay sao?"

Trong những tháng tiếp sau kết cục đáng thất vọng này, Libris thường xuyên gặp gỡ Ruhl để đạt tới các hiểu biết chung trong quan hệ kinh doanh. Libris dự định chuẩn bị một bản dự báo nhu cầu vốn trong tương lai phản ánh chính xác những gì ban lãnh đạo Padgett đang suy tính và các đánh giá của bản thân về công ty này. Cuối năm 1996, ước lượng cơ bản cho năm 1997 được hoàn thành giúp Libris có thể sử dụng những con số này trong bảng dự báo của mình. Bảng dự báo được xây dựng với các tình huống giả định về mức tăng trưởng doanh thu 5%, 10% và 15% hàng năm trong giai đoạn 1998-2000.

Ruhl nghĩ rằng những nỗ lực này của Libris rất có giá trị mặc dù ông lưu ý rằng hai điều chỉnh ở phút cuối cần được ghi nhận trong bảng kế hoạch dự báo. Thứ nhất, Ruhl cuối cùng đã thuyết phục các giám đốc của Padgett rằng chuyển sang phương pháp định giá hàng tồn kho LIFO giúp tiết kiệm được nhiều tiền hơn so với chi phí của hệ thống hiện tại. LIFO sẽ được áp dụng từ năm tài khóa 1997, nhờ đó sẽ cắt giảm được 500.000 USD tiền thuế. Thứ hai, ban quản trị của Padgett đã quyết định sẽ dỡ bỏ một nhà kho, trước là của Tri-State Tablet nhưng nay không cần thiết nữa. Padgett dự kiến sẽ thu được về 700.000 USD từ việc bán kho này và hoàn thuế từ việcghi lỗ trên sổ sách.

Phương án thay thế

Libris vẫn suy nghĩ rằng việc chia nhỏ khoản vay, có thể với chính bộ phận bất động sản của ngân hàng, là hứa hẹn và khả thi. Ví dụ như Padgett sở hữu toàn bộ một nhà kho lớn và có thể trữ được nhiều loại hàng hóa. Nhà kho này được định giá là 3 triệu USD, cao hơn mức ghi nhận trên sổ sách. Mặc dù Libris không có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản, ông vẫn tin rằng tài sản này sẽ là món thế chấp hấp dẫn trong một khoản vay cầm cố. Một lựa chọn khác có thể là đợi tới khi khoản vay đã được hoàn trả một phần thì sẽ mời một ngân hàng khác cùng tham gia chia sẻ phần còn lại. Các phần của khoản vay có thể chuyển luân phiên giữa các ngân hàng để hình thành các kỳ tất toán sau một vài tháng. Cuối cùng, Libris cũng khám phá ra rằng hoạt động tại Canada của Padgett tương đối khép kín với khối lượng giao dịch trong nội bộ công ty hầu như không đáng kể. Với tài sản ròng hiện tại là 1,8 triệu USD đến 2 triệu USD sử dụng làm thế chấp và không có nợ trực tiếp, chi nhánh Canada có thể huy động 1 triệu USD từ các ngân hàng Canada. Các ngân hàng này có thể sẽ áp dụng một mức phí, một dạng của cam kết an toàn, với tất cả các tài sản của chi nhánh.

Mặc dù luật ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại Mỹ không giống như tại Canada và Anh về các quyền đòi nợ thả nổi (quyền cho phép chủ nợ nắm giữ tài sản thế chấp cho tới khi trả hết toàn bộ nợ), các khoản tài chính được đảm bảo bằng tài sản có thể gợi ý nhiều phương án thay thế hữu hiệu. Việc sử dụng các tài khoản phải thu để đảm bảo hiệu quả thu hồi khoản vay có thể sẽ đẩy chi phí tín dụng lên cao do công ty có rất nhiều khách hàng và giá trị thanh toán bình quân từ mỗi khách hàng cũng không lớn. Một cấu trúc dàn xếp các khoản bán lại nợ có thể sẽ phù hợp, trong đó Padgett có thể bán các tài khoản phải thu độc lập của mình cho một công ty tài chính thương mại. Ngân hàng Calson, bản thân họ, không vận hành chức năng mua bán nợ. Vì thế, cần thiết tìm một tổ chức tài chính có kinh nghiệm trong ngành kinh doanh sản xuất và phân phối giấy cùng các sản phẩm từ giấy, và chi phí mua lại nợ, thường ở mức 2% giá trị khoản nợ được giao dịch, có thể là quá cao. Mặt khác, nếu Padgett bán các tài khoản phải thu, họ có thể giải tán bộ phận tín dụng của công ty và không còn các khoản nợ xấu trong báo cáo tài chính.

Calson có thể luôn luôn cung cấp các khoản tín dụng với việc đảm bảo các tài khoản phải thu dù rằng ngân hàng không theo dõi các tài khoản chặt chẽ như bên mua lại nợ vẫn làm. Khoản vay sẽ được giới hạn tới một phần trăm nào đó của các khoản phải thu để dự phòng trường hợp thua lỗ. Lãi suất an toàn cũng sẽ được áp dụng với lượng hàng tồn kho mặc dù việc áp dụng lãi suất này có thể khiến một số nhà cung cấp quan trọng của Padgett thất vọng.

Cân nhắc trên thị trường tiền tệ và các vấn đề định giá

Các quỹ đầu tư tham gia tích cực và sẵn sàng trên thị trường tài chính vào tháng Một 1997. Mặc dù lãi suất đã tăng trong cả năm 1994, nhưng lái suất đã giảm đều đặn trong năm 1995 và 1996 xuống 8,25%. Mức lãi suất thấp nhất trong những năm qua là 6% được áp dụng trong quãng thời gian từ giữa 1992 đến đầu năm 1994. Các giấy tờ thương mại có kỳ hạn 30 ngày mang lại mức lợi tức 5,38%. Đường lợi tức với trái phiếu kho bạc tương đối ổn định: tín phiếu 90 ngày có lựoi tức 5,04%; trái phiếu một năm là 5,6%, trái phiếu 5 năm là 6,10%, trái phiếu 10 năm là 6,59%, và trái phiếu 30 năm là 6,73%. Tuy vậy, trong chiến dịch tranh cử mới đây, có rất nhiều tranh cãi về việc nền kinh tế đang tăng trưởng quá nhanh hay quá chậm. Lãi suất do đó biến động khá nhiều. Bất cứ khi nào thị trường bắt đầu hoài nghi rằng Cục dự trữ liên bang (FED) chuẩn bị tăng lãi suất để đối phó với lại phát, lãi suất lại tăng mạnh.

Biến động lãi suất là một vấn đề mà Libris sẽ phải đề cập tới trong bản đề xuất gửi cho Ruhl. Khoản vay (các khoản vay) sẽ được định giá ở mức lãi suất cố định hay thả nổi? Các khoản vay với lãi suất cố định sẽ có mức lãi suất cao hơn từ 1 đến 2,5% so với mức lãi suất thả nổi.

Trong khi điều chỉnh mức lãi suất với các điều kiện của người vay, ngân hàng Calson thường sử dụng thuật ngữ "hệ thống bù rủi ro." Các tiếp cận này cộng thêm hoặc trừ đi 25 điểm phần trăm (2,5%) vào giá cảu các khoản nợ tùy thuộc vào qui mô doanh thu của công ty đi vay (cộng thêm với các công ty có qui mô nhỏ và khả năng tiếp cận thị trường thấp), mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn vay, qui mô hoàn lại vốn vay tăng dần hay ổn định, lịch sử tín dụng, tình hình thanh khoản, và (trừ điểm với) quan hệ lợi nhuận (ví dụ như việc thanh toán thuế, và uy tín của công ty). Tất nhiên, mức lãi suất cuối cùng sẽ được kiểm tra trên thị trường, với Padgett, mức lãi suất này sẽ hấp dẫn hơn nhiều mức mà ngân hàng Phoenix đưa ra.

Do những phức tạp đã trải qua trong quá trình đàm phán trước đây nhiều khả năng tiếp tục phát sinh trong lần trao đổi sắp tới, Libris hiểu rằng không còn nhiều thời gian để thu thập thông tin. Ông cần làm việc khẩn trương để đưa ra một giải pháp cho cấu trúc của khoản vay thỏa mãn các tiêu chí của Padgett và hợp lý với ngân hàng.

Theo Robert. F. Bruner. "Cases in Finance"

www.saga.vn

 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

Leave a Comment

 




 
*