Câu chuyện về lãi suất là câu chuyện về cửa miệng của các nhà điều hành, trong đó có SBV và VNBA, và cũng là vấn đề nóng hổi từ trong ra ngoài của toàn bộ các doanh nghiệp. Lộ trình hạ lãi suất quả là một lộ trình dài và khó khăn, vất vả lắm mà cái đích “vào 10% – ra 12%” vẫn chưa tới được…  Vẫn biết rồi…

Biết rồi, khổ lắm…

Thì khổ lắm tới gần cuối năm, SBV ra lệnh tăng “đầu vào” lên 12%. Mà phía ngân hàng vốn đã kêu khó từ đầu năm với cái “margin” 2% ít ỏi để sinh lời, giờ “đầu ra” cho doanh nghiệp sẽ là 14% hay 16%, 17% đây? Bao nhiêu cái cam kết, bao nhiêu phân tích, họp bàn và giấy mực, cuối cùng kết quả quay lại vạch xuất phát, thậm chí còn khập khiễng hơn.
Mùa cuối năm, nhiều doanh nghiệp trông mong vào lượng đơn đặt hàng khả quan, thì áp lực lãi vay lại đè lên vai! Tất nhiên từ con số chính thức tới tay người vay, cộng thêm bao nhiêu khoản phí, dịch vụ, lãi suất sẽ không dừng lại ở đó. Ngoảnh sang phát hành thêm với CP thưởng, biếu bên kênh thị trường vốn cũng không xong, quay lại kênh thị trường tiền tệ cũng không được, quay đi quay lại, doanh nghiệp làm ăn không tốt, kỳ vọng NĐT không lên, TTCK lại hạ dần đều, lỗi không thuộc về riêng ai, nên không biết phải quy chụp vào đâu. Cái vòng lẩn quẩn này là căn bệnh nan y quá khó chữa…
Chỉ biết nguyên Thống đốc Cao Sỹ Kiêm cũng e dè: Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn khả năng không an toàn.
25% tăng trưởng tín dụng cho năm 2010 gần đạt được, nhưng thực chất vấn đề là tăng trưởng tín dụng từ nội tệ thì quá yếu, còn ngoại tệ thì hết dư địa rồi( trên 52%). Cuối cùng, sau một thời gian dài neo ở mức trên dưới 8%, việc tăng lãi suất cơ bản đồng nội tệ lên 9% cũng đến như một hệ quả tất yếu. Theo sau đó là những méo mó trong chính sách, nên ổn định hay tăng lãi suất huy động? Và làm thế nào để tổng lợi ích là cao nhất?!?
Đã bất khả thi rồi,
Được coi là một trong những tác nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng Đông Á 1997, khi chính phủ Thái Lan ra sức khả thi hóa bộ ba: Chính sách tiền tệ độc lập, tự do hóa dòng vốn và ổn định tỷ giá hối đoái. Một nền kinh tế khỏe mạnh là nền kinh tế có khả năng đảm bảo tỷ giá của nó dựa vào dự trữ ngoại hối và cán cân thương mại ổn định và đảm bảo được ít nhất bộ hai khả thi trong số ba điều kiện trên!
Nhưng ở Việt Nam: Dòng vốn điều hòa theo nhu cầu thị trường, chính sách tiền tệ vẫn kỳ vọng độc lập thì làm sao tỷ giá có thể ổn định mãi được? Trên hết chính tỷ giá lại là công cụ để giảm bớt quy mô của thâm hụt thương mại, của nợ công. Và khi tỷ giá tăng tới hơn 5% từ đầu 2010 tới nay, chúng ta mới quay ra bán ngoại tệ để ổn định lại tỷ giá. Mặc dù nợ công của chúng ta theo con số thống kê của Economist là hơn 51 tỷ USD, chiếm hơn một nữa GDP nhưng dường như chưa thấy ai cảnh báo!?! Trong khi dự trữ ngoại tệ cuối 2009 chỉ có vỏn vẹn 15.2 tỷ USD.
Ngày 04/11/2010, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 04/CT-NHNN về thực hiện các giải pháp tiền tệ, tín dụng và ngân hàng góp phần ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô trong những tháng cuối năm 2010 và đầu năm 2011.
20 năm đổi mới trở lại đây, 19 năm chúng ta nhập siêu. Mặc dù chúng ta phá giá liên tục VND so với USD, nhập siêu vẫn tăng mà không hề giảm, hóa ra lại là một áp lực. Và khi phải bỏ USD ra để nhập khẩu hàng hóa về, vô hình chung, những đồng USD ít ỏi trong túi dự trữ lại chảy hết ra ngoài biên giới Việt Nam!

Biết bao giờ mới cân bằng được cán cân thanh toán và thương mại?

Và tôi cũng không nhớ chính xác, khoảng tháng 7-8 vừa qua khi giá vàng có dấu hiệu tăng, DN bất lực vì không được SBV cho nhập khẩu vàng về kinh doanh. Hôm nay, khi giá vàng trên 1400 USD/ ounce. Thống đốc ra lệnh cấp quota nhập vàng?!?
Và thêm một câu hỏi nữa đặt ra là tại sao trên khắp thế giới, USD cứ liên tục giảm giá, đặc biệt so với CNY, EUR, JPY… thì ở VN, tỷ lệ mất giá của VND còn nhanh hơn cả USD- đồng tiền đang bị thất sủng. Vấn đề phải chăng nằm ở chỗ niềm tin của người dân dành cho đồng nội tệ đang ngày càng giảm sút, nên họ mới đi tìm công cụ dự trữ khác? Câu trả lời nằm ở con số 20% giao dịch hiện tại ở Việt Nam được thanh toán bằng USD theo thống kê của ADB, và 30% là mức báo động về tỷ lệ Đô la hóa tại một quốc gia!!!
Tăng trưởng mà làm gì
Đã có đại biểu trong kỳ họp Quốc hội thốt lên câu này, tăng trưởng mà làm gì khi mỗi năm, lạm phát cũng 7- 8%. Chúng ta quen để mặc vấn đề, chấp nhận nó như một lẽ tự nhiên. Nhưng đến lúc nhìn lại, có hơn một hoài nghi cần giải đáp.
So với tháng 12/2009, CPI tháng 10 tăng 7,58%, xấp xỉ đạt ngưỡng 8% của cả năm 2010. Và với đà tăng như trên, chắc chắn lạm phát năm 2010 không thể đạt mục tiêu như Quốc hội đề ra, thậm chí có thể lên tới 9%, 10% nếu theo xu thế cuối năm các mặt hàng thường tăng cao, đặc biệt giá vàng, USD thời gian qua đã tăng quá chóng mặt.
Và nhìn lại GDP năm 2010, lạc quan, Việt Nam có thể đạt được 6.7% tăng trưởng. Tức là sau một năm, chúng ta đi lùi khoảng 2% tới 3%. Và thực trạng này diễn ra triền miên qua rất nhiều năm. Thì tăng trưởng mà làm gì?
Chúng ta phát triển nền kinh tế dựa vào những ngành chủ lực như dệt may, thủy sản, dầu khí… những ngành vô cùng thâm dụng vốn và lao động. Và đi nhập khẩu những mặt hàng công nghệ, kỹ thuật. Câu chuyện đó cũ rồi. Nhưng câu chuyện mới hơn lại càng khiến những người yêu nước thấy xót xa: Chúng ta nhập khẩu tăm tre, bản lề, đã và đang nhập khẩu ngô từ Trung Quốc? Trong khi Tre Việt Nam đã là biểu tượng lâu đời, và ngô là lương thực phổ biến thứ hai ở đất nước nông nghiệp nhiệt đới?!? Vậy lợi thế cạnh tranh của đất nước nằm ở đâu? Và bao giờ Việt Nam có thể thoát khỏi vòng lẩn quẩn này?!?
Chào, phong vũ biểu!
Một câu chuyện nữa được dành cho phần kết. Câu chuyện về thị trường chứng khoán Việt Nam. Bất chấp kết quả kinh doanh quý II, rồi quý III, và sắp tới là cả năm 2010 không hề xấu, bất chấp thị trường chứng khoán toàn cầu thăng trầm rõ rệt, bất chấp nỗ lực của NĐT kiên trì bám trụ. Thị trường CKVN năm 2010 đến thời điểm hiện tại chưa hề có một con sóng nào.
Có bao nhiêu NĐT dám tự hào mình kiếm lời được từ thị trường này? Hiếm có ở đâu TTCK hoàn hảo để là tấm gương, là phong vũ biểu của nền kinh tế, nhưng trên hết, nó cũng phản ánh được phần nào hiện trạng của tình hình vĩ mô. Đúng, với thực trạng vĩ mô còn quá nhiều bất an về lãi suất, tỷ giá, cán cân thanh toán, tăng trưởng, lạm phát, chỉ số niềm tin… giấc mơ về một con sóng lớn năm 2010 dường như khá xa. Âu cũng là điều dễ hiểu, đặt biệt nó vốn xung khắc với lãi suất đang tăng, có lẽ, một câu chào muộn mằn như đã an bài cho tấm gương của nền kinh tế.
Khi tôi viết những dòng tạm biệt TTCK, đã có không ít nhà đầu tư tất toán tài khoản của mình và âm thầm chuyển sang những kênh khác, họ chờ, trước khi một con sóng mới bắt đầu. Mặc dù họ cũng hiểu: Một khi ở Việt Nam, vị trí trung tâm huy động vốn vẫn thuộc về hệ thống ngân hàng, một khi vĩ mô còn chưa ổn định, thì lúc đó TTCK Việt Nam vẫn còn chưa cất cánh lên được…
Boomerang ném ra, rồi quay về. Gần 1 năm qua, kinh tế Việt Nam được hỗ trợ bởi rất nhiều chủ trương, và chính sách…

Khá nhiều trong số đó vẫn còn là mâu thuẫn!

www.SAGA.vn – link_stock

 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

Leave a Comment

 




 
*