Từ lâu, người ta thường tin rằng các dịch vụ công nên được giao cho các định chế công quản thực hiện để đảm bảo tính công bằng. Niềm tin này không phải không có cơ sở. Các định chế công thường được cho là mang tính chất không vụ lợi, do đó dịch vụ (hoặc sản phẩm) mà chúng cung ứng cho người dân sẽ đồng đều và không phân biệt đối xử, người có tiền cũng không được ưu ái hơn người không có tiền. Nhiều người bênh vực cho vai trò này của Nhà nước, đặc biệt đối với các dịch vụ y tế (chữa bệnh miễn phí cho người nghèo) và giáo dục (cưỡng bách giáo dục cho đến hết bậc tiểu học hay đến hết lớp 12), cho rằng điều này tạo nên một nền tảng công bằng cần thiết cho sức khỏe và kiến thức của cộng đồng, để mọi người có thể hưởng được một điểm xuất phát với cơ hội như nhau trong cuộc sống.
bv binh dan.jpgDịch vụ công có công bằng?
Tuy nhiên, tính công bằng và không phân biệt đối xử của các sản phẩm và dịch vụ công chỉ hiện hữu trên lý thuyết. Khi mọi thứ là cho không, khối cầu của sản phẩm và dịch vụ không mất tiền đó sẽ
tăng trưởng gần như không giới hạn, trong khi cung sản phẩm và dịch vụ đó trở nên hết sức hạn chế. Nhà nước, với một ngân sách eo hẹp và những nhu cầu lớn lao về quốc phòng và an ninh, không thể bao biện cung ứng cho người dân mọi loại dịch vụ, sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt và học tập của họ, dù có thu phí hay không. Thật ra, việc thu phí từ những dịch vụ công dù chỉ là tượng trưng cũng vi phạm nguyên tắc miễn phí và cũng không có ý nghĩa nhiều về mặt tài chính và chất lượng dịch vụ, nó không làm cho ngân sách đỡ gánh nặng hơn và cũng không làm cho các dịch vụ công được cung ứng với chất lượng tốt hơn.
Do đó, dần dần, quan niệm về thế nào là một dịch vụ thuần túy công ích đang thu hẹp. Trước đây, mọi thứ có liên quan đến các dịch vụ và sản phẩm được xem là nhu yếu đều thuộc lĩnh vực công ích. Thí dụ việc phân phối gạo có thời kỳ thuộc độc quyền của Nhà nước. Rồi đến điện, nước, giao thông công cộng (hàng không, hỏa xa, xe bus), y tế, giáo dục, viễn thông, bưu điện… đều được quan niệm là phải thuộc sự quản lý của Nhà nước mới phục vụ tốt hơn và công bằng hơn cho cộng đồng.
Ngày nay, lĩnh vực gọi là công ích đang thu hẹp dần vì người ta thấy rằng các
công ty tư nhân vẫn có thể đảm đương hoạt động này một cách tốt đẹp, thậm chí còn tốt hơn và có lợi về mặt kinh tế hơn. Hiện chỉ còn hai lĩnh vực y tế và giáo dục là còn cho là nên thuộc trách nhiệm của Nhà nước, tuy rằng nhiều người vẫn khuyến cáo rằng Nhà nước nên dần dần chuyển giao trách nhiệm này cho xã hội. Các bệnh viện công, ngày xưa gọi là nhà thương thí, chắc chắn không còn có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu chữa bệnh miễn phí hoàn toàn cho mọi người dân. Các trường công lập hoàn toàn miễn học phí sẽ phát triển không kịp với nhu cầu được học của số trẻ em ngày càng gia tăng. Khi cầu lớn hơn cung trong một cơ chế phi thị trường, những hạn chế phi thị trường dần dần được thiết lập để làm giảm số lượng người tiếp cận.
Đầu tiên, đó là những chuẩn mực về khả năng thanh toán của đối tượng. Các
bệnh viện miễn phí được hiểu là chỉ điều trị miễn phí cho bệnh nhân nghèo, nhưng ở đây, định nghĩa thế nào là một bệnh nhân nghèo thường không rõ ràng. Năng lực thanh toán của bệnh nhân không tùy thuộc vào gia cảnh của họ mà lại tùy thuộc vào căn bệnh của họ. Có những căn bệnh hiểm nghèo mà chi phí chữa bệnh lên đến hàng trăm triệu đồng, vượt quá khả năng thanh toán của một gia đình trung lưu cấp thấp, đừng nói là những gia đình nghèo theo một tiêu chuẩn xác định nào đó. Liệu rằng, các bệnh viện miễn phí, các nhà thương thí, có sẵn lòng và sẵn ngân khoản để điều trị cho những trường hợp đó không?
bv.jpgThứ hai, đó là vấn đề
chất lượng phục vụ của các định chế công, khi lâm vào tình trạng quá tải. Khi số lượng bệnh nhân tăng quá đông, chất lượng phục vụ bệnh nhân, chưa nói đến việc chữa trị, thuốc men… chắc chắn giảm thấp. Đã có nhiều trường hợp một giường bệnh phải nằm hai người, nhiều bệnh nhân và người nuôi bệnh phải nằm la liệt trên sàn nhà. Không hiếm những trường học phải dạy ba ca, không hiếm những trường không đủ bàn và ghế ngồi cho học sinh. Còn đối với những công chức làm việc trong những định chế công đó? Lương thấp, tình trạng phục vụ quá tải có thể khiến cho họ trở nên khó tính và thiếu hẳn nụ cười.
Cuối cùng, điều mà chúng ta tưởng tượng rằng các định chế công có thể phục vụ một cách công bằng, không phân biệt đối xử với chất lượng phục vụ tốt hiếm khi xảy ra trong thực tế. Rốt cuộc, các bệnh viện gọi là miễn phí muốn tồn tại vẫn phải thu phí, những loại phí thuộc kế hoạch B và những bệnh nhân có tiền thanh toán thuốc men và viện phí vẫn được phục vụ tốt hơn. Các trường hợp bệnh viện công không đòi hỏi bệnh nhân phải nộp đủ tiền thuốc, tiền mổ cho một ca khẩn cấp ngày càng trở nên hiếm hoi. Còn đối với các trường công lập? Không những phụ huynh học sinh vẫn phải đóng học phí, mà thậm chí còn phải “chạy trường” để được trường tốt, và có phải góp nhiều thứ lệ phí khác, kể cả học phí cho các lớp phụ đạo.
Nên xã hội hóa dịch vụ công
Khi các dịch vụ công miễn phí trở thành dịch vụ công phải trả tiền theo cách vừa nói, – tức là theo lệ làng chớ không theo phép nước – chất lượng các dịch vụ công không vì thế mà được cải thiện hơn. Vấn đề là ngân sách không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư mới để cải thiện công nghệ, cải thiện
quy trình quản lý, đào tạo và huấn luyện nhân viên đồng thời tăng lương bổng cho nhân viên để tăng cường chất lượng phục vụ. Trong khi đó, một xã hội dân sự tiến bộ có những nhu cầu phát triển mới. Mọi người dân trong cộng đồng, dù nghèo hay giàu, đều đòi hỏi chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, mà một trong những chuẩn mực có thể đánh giá được chính là chất lượng phục vụ tại các bệnh viện và các trường công.
Vấn đề xã hội hóa các dịch vụ công,
cổ phần hóa một số bệnh viện, trường công lập nhằm nâng cao chất lượng chữa bệnh, chất lượng đào tạo nên được xem xét một cách nghiêm túc, nếu thật sự điều này dẫn đến một sự cải thiện về nguồn vốn đầu tư, về hiệu quả đầu tư, về hiện đại hóa công nghệ, cải thiện cung cách quản lý, tạo động lực làm việc và nâng cao chất lượng phục vụ. Cộng đồng sẽ có những bệnh viện tốt hơn, những trường học tốt hơn để phục vụ bệnh nhân tốt hơn và đào tạo học sinh tốt hơn. Những nơi này không cung cấp dịch vụ miễn phí nhưng thật ra, điều này không làm thay đổi chính sách điều trị miễn phí bệnh nhân nghèo, cũng như không làm thay đổi chính sách giáo dục cưỡng bách quốc gia, nếu chúng ta thực sự muốn duy trì các chương trình xã hội cần thiết này. Hệ thống bảo hiểm y tế đang mở rộng cho mọi người dân trong cộng đồng và không có gì trở ngại về mặt chính sách và biện pháp thực hiện trong việc cung cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho những thành viên của các gia đình cần được giúp đỡ, và các trẻ em cơ nhỡ.
benh vien binh dan.jpgTrên thực tế, các chương trình này đang được Nhà nước quan tâm. Với thẻ bảo hiểm y tế, các bệnh nhân này có thể đàng hoàng tiếp cận các bệnh viện được cổ phần hóa và được hưởng một cách
công bằng hơn, với một sự đối xử tốt hơn và một chất lượng phục vụ cao hơn đối với các dịch vụ nghỉ dưỡng và điều trị tại đây, theo những quy định nghiêm ngặt được công bố về việc nghỉ dưỡng và điều trị thuộc hệ thống bảo hiểm y tế. Các học sinh nghèo sẽ được hưởng các khoản trợ cấp từ Quỹ giáo dục quốc gia để thanh toán các khoản học phí trong những năm học của mình theo chính sách cưỡng bách giáo dục của Nhà nước. Các em sẽ được hưởng một chất lượng đào tạo không kém hơn những em giàu có khác, không mặc cảm vì không có phân biệt đối xử. Phương thức này mang lại một sự công bằng không kém hơn phương thức cũ, nhưng với một chất lượng giáo dục chắc chắn cao hơn.
Suy cho cùng, các khoản trợ cấp từ Quỹ giáo dục quốc gia xem ra còn ít hơn các khoản bù lỗ từ ngân sách dành cho hệ thống các trường công lập, mà lại sát hợp với mục tiêu công bằng hơn, vì phù hợp với nguyên tắc khả năng đài thọ của người dân. Ai có khả năng tự mình đài thọ các chi phí ăn học, chữa bệnh sẽ phải đài thọ. Nhà nước chỉ giúp đỡ những đối tượng thật sự cần đến.
Vấn đề cuối cùng là hiệu quả và động lực, những điều tạo nên khác biệt và tiến bộ. Cũng những con người đó, nếu có động lực sẽ làm việc siêng năng hơn, hiệu quả hơn. Cũng những đồng vốn đó, nếu biết sử dụng hiệu quả sẽ tiết kiệm được nhiều hơn, đồng thời tạo ra nhiều của cải dịch vụ hơn với chất lượng cao hơn. Chính đó là điều cần phải chọn lựa, trong một thế giới mà sự
lãng phí không chỉ là một vấn đề đạo đức mà còn là một tội phạm.

HUỲNH BỬU SƠN
(Trang Vấn đề, báo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần số 204, ra ngày 29/6/2007)

==================================
Bài www.saga.vn – DNSGCT hợp tác phát hành

 

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

Leave a Comment

 




 
*